Phần 1


Phần 2










Ấn Độ vừa chính thức thuê một tàu ngầm sử dụng năng lượng nguyên tử từ Nga, trở nên một trong số ít các quốc gia có trong tay loại vũ khí đặc biệt này.
Tàu ngầm Nga trị giá 1 tỷ đôla được hải quân Ấn thuê với thời hạn 10 năm.
Chiếc tàu ngầm lớp Akula II, tải trọng 8.140 tấn sẽ có thủy thủ đoàn 80 người.
Nga được trông đợi sẽ giúp huấn luyện thủy thủ cho tàu này.
 
Nhiều quốc gia hiện đang sở hữu các tàu sân bay đang trong tiến trình đặt kế hoạch cho những lớp tàu mới, để thay thế những chiếc hiện tại.
Hải quân quốc gia Pháp
Hải quân Pháp đã đưa ra các kế hoạch cho một tàu sân bay thứ hai, để bổ xung thêm cho chiếc Charles de Gaulle. Thiết kế chiếc này lớn hơn, với phạm vi chiếm nước 50–60,000 tấn, và không sử dụng động cơ năng lượng hạt nhân như chiếc Charles de Gaulle. Đã có kế hoạch để biến Thiết kế hải quân Hoàng gia cho các chiến dịch CATOBAR (thiết kế Thales/BAE Systems cho hải quân hoàng gia là cho tàu sân bay STOVL có thể cải tổ cấu hình cho các chiến dịch CATOBAR).
Hải quân Ấn Độ
Ấn Độ đã bắt đầu chế tạo một chiếc tàu sân bay 37,500 tấn, 252 mét dài vào tháng 4, 2005. Chiếc tàu sân bay mới sẽ có giá 762 triệu US dollar và sẽ mang theo các máy bay MiG 29K ‘Fulcrum’ và Sea Harrier cùng với các máy bay trực thăng do Ấn Độ và Nga cùng chế tạo. Chiếc tàu này sẽ có bốn động cơ turbine và khi hoàn thành sẽ có tầm hoạt động 7,500 dặm biển, mang theo 160 sỹ quan, 1400 binh lính và 30 máy bay. Chiếc tàu đang được đóng tại một xưởng đóng tàu nhà nước ở phía nam Ấn Độ. Năm 2004, Ấn Độ cũng mua chiếc Admiral Gorshkov từ Nga với giá 1.5 tỷ US dollar; nó đang sắp được biên chế vào Hải quân Ấn Độ vào năm 2008 sau khi được sửa chữa
Quân đội trên biển Italia
Việc chế tạo các tàu sân bay kiểu V/STOL cho Quân đội trên biển(Marina Militare) Cavour có động cơ quy ước đã bắt đầu năm 2001. Nó đang được Fincantieri của Italy đóng. Sau nhiều lần trì hoãn, Cavour được chờ đợi sẽ đưa vào phục vụ năm 2008 để hỗ trợ thêm cho những chiếc tàu sân bay trong lực lượng Quân đội trên biển hiện nay Giuseppe Garibaldi. Một chiếc thứ hai với phạm vi chiếm nước 25-30,000 tấn đang được Hải quân Italia trông đợi, để thay thế chiếc tàu đã bị loại bỏ Vittorio Veneto, nhưng vì các lý do tài chính, phát triển thêm nữa vẫn còn đang đứng im.
Cộng hòa nhân dân Trung Hoa
Tháng 6, 2005, trên trang web boxun.com có thông báo rằng Cộng hòa nhân dân Trung Hoa sẽ chế tạo một chiếc tàu sân bay có giá 362 triệu US dollar với trọng lượng nước rẽ 78,000 tấn, nó được chế tạo bởi Xưởng đóng tàu mật Jiangnan ở Thượng Hải. Báo cáo này đã bị quan chức Bộ quốc phòng Trung Quốc là Zhang Guangqin bác bỏ. Nhiều cuộc đàm phán trước kia để mua tàu sân bay từ Nga và Pháp đã không thành công. Vào ngày 10 tháng 3 năm 2006, Trung tướng Wang Zhiyuan thuộc Quân đội giải phóng nhân dân đã thông báo rằng Cộng hòa nhân dân Trung Hoa sẽ nghiên cứu và chế tạo một tàu sân bay để phát triển một CVBG trong 3 tới 5 năm. Các nhà quan sát cho rằng chiếc tàu sân bay đầu tiên của Trung Quốc sẽ được dùng để đảm bảo an ninh những đường vận chuyển năng lượng ở Biển Nam Trung Quốc.
Hải quân hoàng gia Anh
Hải quân hoàng gia hiện có kế hoạch cho hai chiếc tàu sân bay mới (hiện nay mới chỉ biết là CVF) để thay thế ba chiếc tàu sân bay lớp Invincible hiện đang hoạt động. Hai chiếc này sẽ được đặt tên là HMS Queen Elizabeth và HMS Prince of Wales. Chúng sẽ có khả năng mang khoảng 50 máy bay và sẽ có trọng lượng rẽ nước khoảng 60,000 tấn. Hai chiếc tàu này sẽ được đưa vào phục vụ vào năm 2012 và 2015. Những chiếc máy bay được được bố trí đầu tiên trên chúng là F-35 Joint Strike Fighter, và số lượng tàu cùng đoàn với chúng khoảng 1000.
Hai chiếc tàu này sẽ là những chiếc tàu chiến lớn nhất từng được chế tạo cho Hải quân hoàng gia. Ban đầu chúng được định dạng cho các chiến dịch STOVL, những chiếc tàu sân bay có thể được điều chỉnh cho thích ứng với mọi kiểu thế hệ máy bay tương lai được bố trí trên chúng.
Tây Ban Nha
Dự án cho chiếc tàu dài 231 và lượng rẽ nước 25,000–30,000 tấn dùng động cơ quy ước Buque de Proyección Estratégica (tàu dự án chiến lược) cho hải quân Tây Ban Nha được thông qua năm 2003, và việc chế tạo nó đã bắt đầu vào tháng 8, 2005, công ty đóng tàu Navantia chịu trách nhiệm dự án. Chiếc Buque de proyección estratégica là một chiếc tàu được thiết kế để hoạt động như tàu tấn công đổ bộ và tàu sân bay kiểu VSTOL, phụ thuộc vào nhiệm vụ được giao. Thiết kế nó dành cho những cuộc xung đột ở tầm thấp mà có thể Hải quân Tây Ban Nha sẽ phải đối mặt trong tương lai. Khi hoạt động như một tàu sân bay kiểu VSTOL, tầm điều hành của nó sẽ khoảng 25,000 tấn, và nó sẽ mang tối đa 30 Matador AV-8B+, F-35 hay một nhóm hỗn hợp cả hai loại máy bay trên. Chiếc tàu này có một Sky-Jump và một hệ thống chiến đấu dựa trên radar ba chiều, và nó sẽ là chiếc tàu sân bay thứ hai của hải quân Tây Ban Nha sau chiếc Príncipe de Asturias
Hải quân Hoa Kỳ


Hạm đội những chiếc tàu sân bay Nimitz-lớp Hoa Kỳ sẽ tiếp tục được sử dụng (và trong một số trường hợp được thay thế) bởi chiếc CVN-21/CVNX Carrier. Họ hy vọng rằng những chiếc tàu này sẽ lớnhơn và sẽ mang hơn 80 máy bay hay nhiều hơn nữa so với lớp Nimitz, và cũng sẽ được thiết kế để khó bị radar phát hiện.

Hải quân hoàng gia Australia
Hải quân hoàng gia Australian hiện đang đầu tư vào hai chiếc tàu “đa chức năng”, với thiết kế theo kiểu lớp Mistral của Pháp hay Buque de Proyección Estratégica của Tây Ban Nha. Người ta tin rằng nhiều thành viên bên trong Hải quân hoàng gia Australia và trong chính phủ Australia thích mua thêm F-35B JSF để trang bị cùng với nó, biến chúng thành những tàu sân bay. Điều này sẽ cho phép Hải quân hoàng gia Australia có khả năng sở hữu tàu sân bay lần đầu tiên kể từ thập kỷ 1980.
Tàu sân bay của Nga
Chương trình xây dựng tàu sân bay chỉ bắt đầu được bàn đến tại Liên Xô cũ từ cuối thập niên 1930 nhưng do Thế chiến 2, xung khắc chính trị nội bộ, thiếu hụt kinh phí… nên đến khi I. Stalin qua đời năm 1953, các dự án tàu sân bay của Liên Xô vẫn chưa hề được tiến hành.
Chỉ dưới thời của Brezhnev nó mới được đẩy mạnh. Tàu sân bay đầu tiên của LX là chiếc Moskva, hạ thủy năm 1967, trọng tải 17.500 tấn, thủy thủ đoàn 840 người. Sau đó là chiếc Leningrad. Cả hai chiếc này đều chạy bằng nguồn năng lượng quy uớc nhưng không được xem là tàu sân bay đích thực vì chỉ chở được một số máy bay lên thẳng (trực thăng) chứ không có máy bay chiến đấu có cánh cố định.
Đầu thập niên 70, Hải quân LX có dự án phát triển tàu sân bay nguyên tử mang ký hiệu Orel, trọng tải 80.000 tấn, có thể chở 70 máy bay. Nhưng do bất đồng ý kiến giữa các sĩ quan chỉ huy, dự án này cũng không được triển khai.
Từ 1975 trở đi Hải quân LX lần lượt đưa vào sử dụng 4 tàu sân bay Kiev, Minsk, Novorossiysk, Đô đốc Gorshkov, tức dòng tàu sân bay có trọng tải trung bình 40.000 tấn, chở khoảng 12 chiếc Yak-38 Fogger (tức loại chiến đấu cơ cất cánh-hạ cánh chiều thẳng đứng, gọi là kỹ thuật VTOL) và 20 chiếc trực thăng. NATO gọi loại tàu sân bay này là Kiev, riêng chiếc Đô đốc Gorshkov thì được gọi là hạm Baku.
Từ đầu thập niên 1990 trở đi, Hải quân LX lần lượt xây dựng các tàu sân bay Đô đốc Kuznetsov (tên trước đó là Tbilisi), Varyag (tên trước đó là Riga), trọng tải 67.500 tấn, thủy thủ đoàn 1700 người. Đây là loại tàu sân bay đích thực có khả năng chở các máy bay cất-hạ cánh bình thường như Su-27K, Mig-29K, Su-25… Chiếc Đô đốc Kuznetsov được hạ thủy năm 1991 còn chiếc Varyag, khởi công chế tạo năm 1988 nhưng đến nay vẫn chưa hoàn chỉnh, vẫn còn nằm ? ? hải quân công xưởng Nikolayev Nam, Ukraina.
Trong thập niên 90, Hải quân LX cũng phát triển dự án tàu sân bay nguyên tử đầu tiên. Đó là mô hình chiếc Ulyanovsk, trọng tải 75.000 tấn, được xem ngang hàng với loại tàu sân bay hạng Nimitz hiện đại nhất của Hải quân Mỹ. Nhưng LX xụp đổ, dự án tàu sân bay này đã bị hủy.
Như vậy, hiện nay Hải quân Nga chỉ còn mỗi chiếc Đô đốc Kuznetsov đang hoạt động vì các chiếc Minsk, Leningrad đã được phá thành sắt vụn năm 1992; chiếc Novorossiysk, năm 1993, chiếc Kiev, năm 1994 và chiếc Moskva, năm 1995. Chiếc Varyag chắc sẽ không bao giờ được hoàn thành còn chiếc Đô đốc Gorshkov đã có lúc được hỏi mua bởi Hải quân Ấn Độ.
Liên bang Nga hiện đang phát triển một thiết kế tàu sân bay mới. Chúng bắt đầu từ vạch xuất phát để chế tạo một kiểu hiện đại, với những vật liệu và thiết bị điện tử mới nhất. Nhu cầu có thể là hai chiếc – một cho Hạm đội Baltic Nga và một cho Hạm đội Thái bình dương Nga. Việc chế tạo được dự định bắt đầu từ năm 2010, và kết thúc sau khoảng 6 năm.
Một đoạn video clip dài 3 phút 44 giây ghi lại cảnh một con tàu của Việt Nam đuổi tàu hải giám của Trung Quốc được tung lên trang youtube hôm 6 tháng 11, mà người ta không rõ nó được quay vào khi nào và ở địa điểm nào trên biển Đông.

Nội dung của đoạn phim không cho biết chiếc tàu của Việt Nam thuộc lực lượng nào, hải quân hay cảnh sát biển, và trên tàu không thấy trang bị vũ khí. Nhưng tàu Trung Quốc thì thấy rất rõ hàng chữ 'China Marine Surveillance', tức tàu hải giám Trung Quốc.

Trong đoạn phim, có thể nghe rất rõ tiếng người Việt Nam trên con tàu mà người quay phim đứng, có vẻ đoạn phim được quay bằng điện thoại di động.

Có thể nghe được tiếng người trên tàu Việt Nam ra lệnh 'bám chắc vào", 'mặc quần áo vào'... khi hai tàu đuổi nhau và mạn trái tàu Việt Nam áp sát vào mạn bên phải của tàu hải giám Trung Quốc rồi đụng nhau một cú thật mạnh vào lúc 1 phút 47 giây trong đoạn phim.

Sau khi đụng nhau, hai chiếc tàu cùng rồ máy, kè nhau trong khoảng 2 phút nữa. Có thể thấy mạn bên phải của tàu Trung Quốc trầy từng vết lớn.



Tàu hộ tống thuộc dự án 11661 Gepard-3.9, đóng cho Việt Nam đã khởi hành từ nhà máy ở Kronshtat tới Baltic để tiến hành các thử nghiệm bắt buộc.

Đây là lần thử nghiệm cuối cùng trước khi chính thức bàn giao cho Việt Nam. Theo thông tin từ nhà sản xuất, đợt kiểm tra cuối cùng này sẽ diễn ra trong vòng 10 ngày, bao gồm các thử nghiệm bắn đạn thật và tinh chỉnh hệ thống lần cuối.
Tàu sân bay "thời buổi khó"

Theo báo Nga, gần đây một số nước đã thay đổi lập trường về tàu sân bay, các cường quốc tàu sân bay truyền thống đã lần lượt tuyên bố kế hoạch cắt giảm do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế.

Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Gates cho biết, Mỹ thừa hạm đội tàu sân bay. Tân Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Panetta cũng nói sẽ cắt giảm số lượng tàu sân bay.

Do áp lực tài chính, Anh sẽ chỉ chế tạo 1 tàu sân bay lớp Nữ hoàng Elizabeth thay cho 2 chiếc theo kế hoạch ban đầu. Xu thế này ở các nước Âu-Mỹ hiện vẫn có khả năng tiếp tục tăng lên.

a
Tàu sân bay hạng nhẹ HTMS Chakri Naruebet của hải quân Hoàng gia Thái Lan mua từ Tây Ban Nha.

Nhưng các nước phát triển công nghiệp khác như Nhật Bản có thể quyết định chế tạo hoặc mua tàu sân bay trước năm 2020, hoặc tàu chiến cỡ lớn có thể mang theo máy bay tiêm kích. Một trong những nhân tố chính quyết định tới chính sách tàu sân bay của Nhật Bản là do Trung Quốc phát triển tàu sân bay.

Mặt khác, với đà phát triển kinh tế nhanh, các nước châu Á và Mỹ Latinh đang có khát vọng xây dựng hạm đội tàu sân bay.

Trước năm 2020, Ấn Độ sẽ có ít nhất 2 tàu sân bay mới, gồm tàu Vikramaditya và tàu sân bay nội địa, thậm chí là 2 tàu sân bay nội địa. Như vậy, Ấn Độ sẽ có 3 tàu sân bay. Vì vậy, có thể dự đoán, bên cạnh 45 chiếc MiG-29K đã mua bổ sung, họ có thể sẽ tiếp tục mua ít nhất 20-25 máy bay loại này.

Hải quân Việt Nam vừa tiếp nhận tàu hộ vệ tên lửa Lý Thái Tổ. Nếu Việt Nam duy trì đà phát triển kinh tế hiện nay, sở hữu tàu sân bay là điều có thể.
Hải quân Việt Nam vừa tiếp nhận tàu hộ vệ tên lửa Lý Thái Tổ. Nếu Việt Nam duy trì đà phát triển kinh tế hiện nay, sở hữu tàu sân bay là điều có thể.

Việt Nam có thể sở hữu tàu sân bay

Tạp chí Nga cho biết, kinh tế, công nghiệp và công nghệ quân sự của Trung Quốc tăng trưởng đáng kinh ngạc. Trong 10 năm tới, Trung Quốc sẽ là một trong những nhân tố chính quyết định việc xây dựng quân sự của đa số các nước khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

Chẳng hạn, Việt Nam bắt đầu chịu ảnh hưởng. Trước đây trình độ vũ khí trang bị của Việt Nam thuộc cấp tàu tên lửa, song hiện nay Việt Nam đã bắt đầu mua tàu chiến tương đối lớn cấp độ tàu khu trục, hơn nữa còn mua 6 tàu ngầm diesel lớp Kilo của Nga.

Trên thực tế, điều này có nghĩa là Việt Nam chuẩn bị xây dựng lực lượng mới cho hải quân, cho dù kế hoạch đầy tham vọng này rất khó hoàn thành thuận lợi, hơn nữa phải trả giá đắt.

a
Đầu thế kỷ 21, Việt Nam chỉ mua của Nga vũ khí trang bị trị giá hơn 100 triệu USD/năm, đến năm 2005 đã tăng lên 300 triệu USD, năm 2010 lên tới 1 tỷ USD.

Trong 10 năm gần đây, Việt Nam luôn nỗ lực tăng cường khả năng công nghệ quân sự và khoa học kỹ thuật. Đầu thế kỷ 21, Việt Nam chỉ mua của Nga vũ khí trang bị trị giá hơn 100 triệu USD/năm, đến năm 2005 đã tăng lên 300 triệu USD, năm 2010 lên tới 1 tỷ USD.

Hiện nay, phương hướng trọng điểm của quân đội Việt Nam là tiến hành hiện đại hóa hải quân, mua 2 tàu khu trục Cheetah 3.9, 12 tàu tên lửa lớp Lightning (Tia chớp) 12418, nhiều hệ thống chống tên lửa ven biển Fortress (Pháo đài) và 6 tàu ngầm lớp Kilo.

Hơn nữa, cuối năm 2010, Việt Nam, Malaysia và Indonesia đã bắt đầu tích cực nghiên cứu vấn đề xây dựng hạm đội tàu sân bay. Thái Lan đã sớm sở hữu một chiếc tàu sân bay hạng nhẹ từ năm 1996.

Nếu kinh tế Việt Nam tiếp tục duy trì đà tăng trưởng hiện nay, sở hữu tàu sân bay là điều có thể. Malaysia cũng có thể mua tàu sân bay cỡ vừa và nhỏ của Italia hoặc Tây Ban Nha, lượng choán nước từ 20.000-25.000 tấn, mang theo 10 máy bay tiêm kích.

Trong tình hình đó, khi lựa chọn mua máy bay cho tàu sân bay, rất có khả năng các nước này sẽ lựa chọn MiG-29K. Bởi vì, về giá cả hay tính năng kỹ thuật, MiG-29K đều phù hợp với các nước Đông Nam Á.
Hơn nữa, Công ty MiG bảo đảm sẽ không ngừng nâng cấp hiện đại hóa những máy bay này, đây cũng là một nhân tố quan trọng cho sự lựa chọn của khách hàng, chương trình nâng cấp chủ yếu bao gồm lắp ráp radar mảng chủ động, tăng cường tính năng động cơ, tiếp tục giảm đặc trưng bức xạ hồng ngoại và radar, nâng cao tính năng tàng hình.
Sau Chiến tranh Việt Nam, Việt Nam Campuchia xuất hiện nhiều mâu thuẫn. Tranh chấp và xung đột biên giới xẩy ra liên tục trong các năm 1977  1978, nhưng cuộc xung đột thực ra đã bắt đầu ngay sau khi Sài Gòn thất thủ. Ngày 4 tháng 5 năm 1975, một toán quân Khmer Đỏ đột kích đảo Phú Quốc, sáu ngày sau quân Khmer Đỏ đánh chiếm và hành quyết hơn 500 dân thường ở đảo Thổ Chu[7]. Tức giận vì hành vi gây hấn của Khmer Đỏ, Hà Nội phản công giành lại các đảo này. Trận đánh ở Phú Quốc làm nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam mới thành lập lo ngại, vì cùng thời gian đó, quan hệ Việt Nam Trung Quốc đang xấu đi. Mối lo ngại này càng tăng thêm vì sự hiện diện của cố vấn Trung Quốc ở Campuchia và Trung Quốc tăng cường viện trợ quân sự cho lực lượng vũ trang Khmer Đỏ[8].
Tiếp theo cuộc đột kích vào các đảo Thổ Chu và Phú Quốc, bên cạnh nhiều cuộc đột kích nhỏ, Khmer Đỏ tiến hành hai cuộc xâm nhập qui mô lớn vào Việt Nam. Cuộc tấn công lớn đầu tiên diễn ra vào tháng 4 năm 1977, quân chính qui Khmer Đỏ tiến sâu 10 km vào lãnh thổ Việt Nam, chiếm một số vùng ở tỉnh An Giang và tàn sát một số lớn dân thường. Cuộc tấn công thứ hai diễn ra vào ngày 25 tháng 9 cùng năm, lần này 4 sư đoàn quân Khmer Đỏ đánh chiếm nhiều điểm ở các huyện Tân Biên, Bến Cầu, Châu Thành (tỉnh Tây Ninh), đốt phá 471 ngôi nhà, làm gần 800 người dân bị giết, bị thương hoặc mất tích[9]. Để trả đũa, ngày 31 tháng 12 năm1977, sáu sư đoàn Quân đội Nhân dân Việt Nam đánh vào sâu trong đất Campuchia đến tận Neak Luong rồi mới rút lui từ ngày 5 tháng 1 năm 1978, mang theo một số nhân vật quan trọng bên phía Campuchia, trong đó có cả Thủ tướngtương lai Hun Sen. Cuộc tấn công này được xem là lời "cảnh cáo" cho Khmer Đỏ. Phía Việt Nam đề nghị một giải pháp ngoại giao nhằm thiết lập một vùng phi quân sự dọc biên giới, nhưng Pol Pot từ chối, và giao tranh tiếp diễn.
Trong các đợt tấn công đó, Khmer Đỏ đã thực hiện thảm sát đối với người Việt Nam, một ví dụ là vụ thảm sát Ba Chúc vào tháng 4 năm 1978 với 3157 dân thường bị giết hại. Từ năm 1975 cho tới năm 1978, có tới 30 ngàn người Việt Nam bị Khmer Đỏ sát hại trong các cuộc tấn công dọc biên giới.[12] Việt Nam cố gắng giải quyết cuộc xung đột một cách hòa bình thông qua đàm phán ngoại giao, nhưng Khmer Đỏ từ chối đàm phán, Trung Quốc không chịu làm trung gian hòa giải, còn Liên Hợp Quốc không có biện pháp gì phản hồi lại các phản đối của chính quyền Việt Nam về các hành động gây hấn của Khmer Đỏ.[13] Việt Nam phải chuyển sang sử dụng vũ lực để giải quyết cuộc xung đột.
Quân đội Việt Nam đã chống trả quyết liệt và đã kìm chân bước tiến, đồng thời tiêu hao sinh lực của quân Khmer đỏ. Các hướng tiến quân của Khmer Đỏ bị chặn lại và không thể phát triển được. Ngoại trừ Hà Tiên bị chiếm giữ trong thời gian ngắn, không một thị xã nào của Việt Nam bị chiếm. Theo thống kê từ Việt Nam, từ tháng 6-1977 đến tháng 12-1978, họ đã tiêu diệt 38.563 quân Khmer đỏ, bắt sống 5.800 lính khác[15]. Theo Tạp chí Time, quân Việt Nam tiến hành các cuộc không kích và giao tranh trên bộ, đánh vào các đơn vị quân Khmer Đỏ dọc biên giới nhằm làm suy yếu quân Khmer Đỏ trước khi quân Việt Nam bắt đầu chiến dịch đã tiêu diệt khoảng 17 ngàn quân Khmer Đỏ.

Diễn biến chiến dịch

Tới đầu tháng 12 năm 1978, quân đội Việt Nam được hỗ trợ bởi một số tiểu đoàn Khmer thân Việt Nam đã kiểm soát một vùng đệm dọc biên giới trong lãnh thổ Campuchia, từ Mimot đến Snuol ở các tỉnh Kampong Cham và Kratié[21]. Ở phía Bắc, quân Việt Nam cũng kiểm soát một vùng rộng thuộc lãnh thổ Campuchia dọc theo đường 19[22]. Ngày 23 tháng 12 năm 1978, sau khi được tăng viện, với 80.000 quân, quân đội Việt Nam đã tiến hành phản công trên toàn bộ mặt trận, đẩy lùi quân Khmer Đỏ. Sư đoàn 2 cùng trung đoàn chủ lực tỉnh Tây Ninh mở cuộc tấn công nhằm đánh bật các Trung đoàn 23 thuộc Sư đoàn 304 và Trung đoàn 13 thuộc Sư đoàn 221 của Campuchia ra khỏi các vị trí dọc theo tỉnh lộ 13 sát biên giới. Tuy nhiên chiến cuộc chưa chấm dứt, quân đội Việt Nam quyết định mở cuộc tấn công phòng ngừa vào Campuchia.

Đánh chiếm bờ đông sông Mekông

Cùng thời gian, Sư đoàn 5 thuộc Quân khu 7 tiến từ hướng đông, cùng Sư đoàn 303 tiến theo hướng tây bắc từ Snuol cùng đánh vào Kratié do Sư đoàn 260 và 2 trung đoàn địa phương của đặc khu 505 phòng thủ. Các sư đoàn này gặp phải sức kháng cự quyết liệt từ phía quân Khmer Đỏ. Trong cuộc tiến quân, hai Tiểu đoàn 1 và 2 Trung đoàn 316 Sư đoàn 303 bị tập kích bất ngờ nên bị tiêu diệt. Trung đoàn này, cũng như Trung đoàn 33, sau một tháng hành quân, quân số hao hụt mất một nửa[23]. Các đơn vị quân Khmer Đỏ tấn công Sư đoàn 303 gây nhiều tổn thất và suýt chiếm được sở chỉ huy sư đoàn. Tuy nhiên, sau khi không chặn được quân Việt Nam, quân Khmer Đỏ phải rút lui, và tới ngày 29 tháng 12, thành phố Kratié rơi vào tay quân đội Việt Nam. Cùng lúc, Sư đoàn 302 tiến về phía Tây đã chiếm được Kampong Cham. Sau đó, hai Sư đoàn 302 và 303 cùng quay lại đánh chiếm thị xã Chhlong do Sư đoàn 603 Khmer Đỏ chống giữ. Ngày 4 tháng 1, họ chiếm được Chhlong. Kể từ lúc đó, toàn bộ lãnh thổ Campuchia ở phía đông sông Mekong coi như bị mất.
Không quân Việt Nam cũng tham chiến, tấn công vào tuyến phòng thủ của Khmer Đỏ và ném bom phá hủy một sân bay mà từ đó máy bayT-28 Khmer Đỏ xuất kích ném bom vào các toán quân tiền phương Việt Nam. Sáng ngày 1 tháng 1 năm 1979, sau khi tập hợp lại lực lượng, Quân đoàn 3 đánh chiếm sở chỉ huy Khmer Đỏ sau một giờ giao chiến quyết liệt. Tướng Kim Tuấn hạ lệnh cho các đơn vị dưới quyền truy quét và tiêu diệt các lực lượng Khmer Đỏ còn sót lại. Tới ngày 3 tháng 1, Sư đoàn 320 đã tiến tới bờ đông của bến phà Kampong Cham bên bờ sông Mekong. Tại đây sư đoàn dừng lại, rồi dùng 2 đại đội xe bọc thép mở đường, đánh về phía nam chiếm thủ phủ tỉnh Prey Veng.
Sau khi nhận được sự chấp thuận từ Bộ chỉ huy, sáng ngày 31 tháng 12, sư đoàn 4 của Quân khu 9 và Trung đoàn 9 của Sư đoàn 304 phối thuộc mở cuộc phản công. Sau 24 giờ giao tranh kịch liệt, quân Việt Nam đã đánh lui quân Khmer Đỏ khỏi bờ tây kênh Vĩnh Tế. Chiều ngày 1 tháng 1, được pháo binh và không quân yểm trợ, Lữ đoàn công binh 219 thuộc Quân đoàn 2 bắc cầu phao vượt sông. Sư đoàn 304 và Lữ đoàn xe bọc thép 203 mở đường tiến vào đất Campuchia. Tới trưa ngày 3 tháng 1, Quân đoàn 2 và Quân khu 9 đã tiêu diệt hoặc đánh tan tất cả các lực lượng Khmer Đỏ ở hạ lưu sông Mekong dọc biên giới. Sở chỉ huy Quân khu Tây Nam của Khmer Đỏ phải rút về Takéo.

Đánh chiếm Phnom Penh

Tại Kompong Cham, Quân đoàn 3 của tướng Kim Tuấn cũng giao tranh quyết liệt với quân Khmer Đỏ để vượt sông. Quân Khmer Đỏ thiết lập trận địa phòng ngự dọc bờ tây sông Mekong với nhiều ổ súng máy, súng cối bắn trùm lên mặt sông để ngăn thuyền chở quân Việt Nam đổ bộ. Xa hơn một chút, quân Khmer Đỏ bố trí xe tăng, xe bọc thép, pháo 105mm, 122mm và 155mm để bắn vào quân Việt Nam đang tập trung ở bờ đông sông Mekong. Đêm ngày 5 tháng 1, một toán quân gồm lính trinh sát, công binh và bộ binh định vượt qua bờ sông chiếm một đầu cầu nhỏ, nhưng quân Khmer Đỏ đánh bật họ lại. Tướng Kim Tuấn quyết định dùng hỏa lực áp đảo bắn vào trận địa phòng thủ của quân Khmer Đỏ, rồi cho thả khói mù, dùng thuyền chuyển quân sang bờ tây. Mặc dù rất nhiều thuyền bị trúng đạn của quân Khmer Đỏ, Quân đoàn 3 cuối cùng cũng đã thiết lập được một đầu cầu. Một đại đội xe lội nước vượt sông và tỏa ra để đánh vào thị trấn; hai tiểu đoàn bộ binh cũng vượt được sông, đến 8:30 sáng, Kampong Cham thất thủ.
Trong khi đó, ngày 6 tháng 1 năm 1979, những đơn vị đầu tiên của Sư đoàn 7 Quân đoàn 4 được một tiểu đoàn UFNSK hỗ trợ chiếm được bờ phía đông của bến phà Neak Luong. Quân Campuchia trong khi rút lui vội vã đã không kịp thiết lập công sự phòng thủ. Trong đêm, cách bến phà khoảng hai cây số về phía nam, Trung đoàn 113 cùng Trung đoàn 14 của Sư đoàn 7 được tàu đổ bộ đưa sang bên kia sông, tiến chiếm bờ phía tây của bến phà. Ngày 7 tháng 1, toàn bộ đội hình Quân đoàn 4 tiến hành vượt sông. Do sự tan rã nhanh chóng của lực lượng phòng thủ biên giới và sự chủ quan của Pol Pot, quân đội Việt Nam tiến vào Phnom Penh từ Neak Luong mà không gặp sức chống cự đáng kể nào. Trưa ngày 4 tháng 1, Quân đoàn 4 đã có thể bắt tay với Quân đoàn 3 ở ngoại ô phía bắc Phnom Pênh. Tuy nhiên Quân đoàn 3 đã đến muộn, không kịp chặn đường Chính phủ Polpot rút chạy khỏi Phnom Penh.
Việc quân Việt Nam tiến quá nhanh khiến cho Khmer Đỏ chỉ kịp sơ tán bộ máy lãnh đạo. Son Sen chạy xuyên qua mặt trận ngược về phía Việt Nam để tập hợp tàn quân của các sư đoàn thuộc quân khu miền Đông. Pol Pot, Nuon Chea và Khieu Samphan được vài xe Jeep chở quân bảo vệ chạy về Pursat. Ieng Sary chạy về Battambang trên một chuyến xe lửa đặc biệt chở vài trăm nhân viên Bộ ngoại giao. Việc rút lui khẩn khiến nhiều Bộ khác cùng hàng ngàn nhân viên không được thông báo về cuộc rút lui. Các chuyến xe tiếp theo sơ tán Phnom Penh bị tắc nghẽn bởi quá nhiều người tìm cách bỏ chạy. Như vậy với việc ban lãnh đạo sơ tán, khoảng 40 ngàn dân chúng và binh lính Khmer Đỏ tại Phnom Penh, cũng như các đơn vị quân phòng thủ các mục tiêu lân cận bị bỏ mặc tự thân vận động.[26]

Hướng nam, Sihanoukville

Tại mặt trận phía nam, từ An Giang, quân Việt Nam bắt đầu vượt biên giới vào ngày 3 tháng 1 năm 1979 và tấn công theo hai hướng. Hướng thứ nhất, Sư đoàn 325 và Sư đoàn 8 tiến về phía Tây, dọc theo quốc lộ số 2. Ngày 5 tháng 1 năm 1979, trong khi lực lượng Quân khu 9 tiến đánh Takéo, sư đoàn 325 bắt đầu hành tiến theo hướng Tây Bắc. Lực lượng Khmer Đỏ của Quân khu Tây Nam do Ta Mok chỉ huy khét tiếng cuồng tín đã chuẩn bị công sự phòng thủ ở Tuk Meas trên đường 16, ở khoảng giữa biên giới và Chhuk. Phải mất hai ngày giao chiến, Sư đoàn 325 mới có thể đánh tan tuyến phòng ngự của Khmer Đỏ và chiếm được khu vực Tuk Meas. Cùng lúc đó tướng Nguyễn Hữu An cũng tung Sư đoàn 8 theo hướng tây để đánh chiếm quận lỵ Kampong Trach, nằm ở giao điểm với đường quốc lộ ven biển.
Sẩm tối ngày 6 tháng 1, toán quân đặc công gồm 87 người bí mật đổ bộ và tấn công chiếm một trận địa pháo Khmer Đỏ bảo vệ bờ biển, cùng lúc, pháo 130mm bắt đầu bắn phá các vị trí quân Khmer Đỏ. Lập tức các thuyền tuần tiễu loại nhỏ của Khmer Đỏ xuất kích từ quân cảng Ream và các bến cảng nhỏ tấn công vào Hải quân Việt Nam. Sau một trận giao chiến trên biển, do có ưu thế về số lượng và hỏa lực, Hải quân Việt Nam đẩy lùi hoặc đánh chìm hầu hết các tàu Khmer Đỏ, nhưng một tàu của Việt Nam cũng bị trúng đạn, khiến nhiều thủy thủ bị thương vong[28]. Số tàu phóng lôi Khmer Đỏ chạy thoát khỏi cuộc hải chiến và các cuộc không kích của không quân Việt Nam, đến ngày 16 tháng 1 lại bị Hải quân Việt Nam chặn đánh trong vịnh Thái Lan và bị tiêu diệt gần hết.
Theo kế hoạch, lực lượng Hải quân đánh bộ phải triển khai một lực lượng lớn, theo vùng ven biển đánh chiếm cùng lúc hai cây cầu quan trọng và giao điểm Veal Renh dẫn về bán đảo Kampong Som. Tuy nhiên, một chỉ huy lực lượng lính thủy đánh bộ do nóng vội, đã tập hợp tiểu đoàn của mình, chở trên 12 xe tăng và xe bọc thép tiến về Sihanoukville trước khi trời sáng. Đơn vị này bị một lực lượng lớn Khmer Đỏ vây đánh từ chiều, qua đêm đến suốt ngày hôm sau và cuối cùng bị tiêu diệt gần như hoàn toàn. Đến đêm ngày 7 tháng 1, Hải quân mới đổ bộ thêm được 3 tiểu đoàn của Lữ đoàn 126 và 2 tiểu đoàn của Lữ đoàn 101 lên bãi biển, nhưng số xe tải phải đến ngày 8 tháng 1 mới lên bờ được.
Ngày 9 tháng 1, Trung đoàn 66 sau khi gặp lực lượng Hải quân đánh bộ, chuẩn bị giao chiến: không lặp lại sai lầm của Hải quân, Trung đoàn 66 tổ chức chiếm cao điểm xung quanh thành phố trước khi phối hợp với hải quân đánh bộ đánh vào thành phố. Sau khi đánh tan được Sư đoàn 230 Campuchia, quân Việt Nam chiếm được Kampot. Trung đoàn 9 không đến kịp vì một cây cầu sụp đổ khi xe tăng dẫn đầu trung đoàn đi qua. Khi Trung đoàn 9 và Lữ đoàn xe tăng 203 đến thành phố thì Kampot đã rơi vào tay quân Việt Nam, nên lực lượng này được đưa đi đánh quân cảng Ream. Được sự trợ lực của pháo hải quân bắn từ bến cảng lên, cánh quân này chiếm được quân cảng Ream và hảicảng Kampong Som. Tuy nhiên, vì không chuẩn bị kịp về tiếp liệu[], quân Khmer Đỏ đã có thể phản công chiếm lại Kampong Som ngày 14 tháng 1, nhưng quân Việt Nam tái chiếm lại vào ngày hôm sau.

Truy quét tàn quân Khmer Đỏ

Đánh Siem Reap và Battambang

Ngày 8 tháng 1, Sư đoàn 10 theo lệnh của tướng Kim Tuấn thực hiện cuộc hành quân chớp nhoáng truy kích quân Khmer Đỏ. Tới ngày 9, Trung đoàn 24 đã chiếm được Kampong Thom, Trung đoàn 26 cũng đã kiểm soát được đường 6 nối Kampong Thom và Phnom Penh, Trung đoàn 66[29] được lệnh vượt lên trước hai đơn vị này đánh chiếm thành phố Siem Reap ở phía tây bắc biển hồ Tongle Sap. Dùng 36 xe tải chở quân, được xe tăng yểm trợ, trung đoàn nhanh chóng hành quân, tiến được 100km chỉ trong vòng 2 giờ, đồng thời đánh tan các trạm kiểm soát của Khmer Đỏ dọc đường. Trên đường đi, một đoàn xe chở quân Khmer Đỏ cũng nhập vào đội hình trung đoàn do tưởng nhầm là tàn quân Khmer Đỏ tháo chạy. Do trời tối, không ai phát hiện ra sự nhầm lẫn này. Mãi đến khi hai bên nhận ra nhau thì một trận đánh khốc liệt mới nổ ra, quân Việt Nam tiêu diệt và chiếm toàn bộ đoàn xe gồm 23 xe tải chở quân Khmer Đỏ. Rạng sáng ngày 10, quân Việt Nam đến Siem Reap, quân Khmer Đỏ bị bất ngờ, phải tháo chạy ra bốn phía. Tới khi trời tối thì Trung đoàn 24 thuộc Sư đoàn 10 và Sư đoàn 5 của Quân khu 7 cũng đã tới nơi.
Ngày 13 tháng 3 năm 1979, tướng Kim Tuấn di chuyển Bộ chỉ huy Quân đoàn 3 đến Battambang để trực tiếp chỉ huy chiến dịch truy quét tàn quân Pol Pot tập trung ở vùng tây nam gần biên giới Thái Lan. Ba ngày sau, ông rời Battambang để đi Siem Reap, trên đường đi khoảng 40km về hướng bắc Battambang, đoàn xe của ông bị Khmer Đỏ phục kích. Chiếc com-măng-ca thứ 3 có Tư lệnh Kim Tuấn ngồi bên cạnh người lái xe bị trúng đạn M79 khiến ông bị thương nặng vùng cột sống và mất ngày hôm sau, ngày 17 tháng 3. Ông là sỹ quan cao cấp nhất của Quân đội Nhân dân Việt Nam hy sinh khi tham chiến ở Campuchia. Ba tháng sau, tháng 6 năm 1979, Quân đoàn 3 của ông rời Campuchia để tham gia phòng thủ biên giới phía bắc với Trung Quốc.

Khu vực Tây Nam

Trận đánh quan trọng đầu tiên trong chiến dịch bình định diễn ra tại Kampong Speu, nằm trên quốc lộ 4 nối hải cảng Kampong Som với Phnom Penh, cách Phnom Penh khoảng 50 km. Thị xã này, sau khi quân Khmer Đỏ di tản vội vã, do Trung đoàn 10 thuộc Sư đoàn 339 Việt Nam chiếm đóng. Nhưng ít ngày sau, các lực lượng còn lại của các Sư đoàn 703, 340, 221 từ tuyến phòng thủ Svay Rieng chạy về đã tập trung lại và dự định tái chiếm thị xã. Được tin, Bộ tư lệnh Quân đoàn 4 điều động Sư đoàn 341 đến tăng cường. Trận đánh bắt đầu ngày 21 tháng 1 năm 1979 đến ngày 7 tháng 2 mới kết thúc. Dù bị tổn thất nặng, quân Việt Nam vẫn giữ được Kampong Speu, các lực lượng của 3 sư đoàn Campuchia bị tan rã, chỉ còn là những nhóm nhỏ hoặc tiếp tục đánh du kích, hoặc rút về biên giới Thái Lan.
Giữ vững được Kampong Speu, bảo đảm được giao thông trên quốc lộ 4, quân Việt Nam tiến đánh căn cứ Amleng, nơi mà bộ chỉ huy quân sự của Pol Pot từ Phnom Penh rút về trú đóng. Căn cứ này nằm trong một vùng rừng núi hiểm trở, cách Phnom Penh khoảng 100 km về phía tây nam. Lực lượng tấn công gồm Sư đoàn 2, Sư đoàn 7, Sư đoàn 9, Sư đoàn 341 của Quân đoàn 4, được tăng cường thêm Sư đoàn 5 của Quân khu 7. Vì lực lượng tấn công quá hùng hậu, quân Khmer Đỏ rút lui, bỏ lại căn cứ Amleng, nhưng họ tìm đủ cách để gây khó khăn và tổn thất cho quân Việt Nam khi họ rút lui khỏi căn cứ bằng đủ mọi cách như phục kích, bắn tỉa, gài mìn, đốt rừng...
Chiếm xong được Amleng, quân Việt Nam mở chiến dịch đánh chiếm thị xã Leach. Leach là một thị xã nhỏ nằm gần quốc lộ số 5 là con đường từ Phnom Penh đi Battambang, cách biên giới Thái Lan khoảng 80 km. Trước ngày 7 tháng 1, Leach được Khmer Đỏ sử dụng làm căn cứ tiếp liệu. Sau khi Phnom Penh thất thủ, khi quân Việt Nam chưa có đủ thì giờ để chiếm đóng hết các vị trí, Khmer Đỏ dự định biến Leach thành một căn cứ phản công. Một phần lớn những lực lượng còn lại được tập trung tại đây. Tuy quân số gồm nhiều sư đoàn (104, 210, 260, 264, 460, 502), nhưng trên thực tế, mỗi sư đoàn chỉ còn chưa tới một ngàn quân[]. Lực lượng phòng thủ cũng có vài khẩu pháo 105 ly và vài xe thiết giáp.

[sửa]Thành lập chính quyền mới

Căng thẳng biên giới với Thái Lan

Thủ tướng Thái Kriangsak cũng tìm kiếm hỗ trợ từ Washington nhằm ngăn ngừa Hà Nội. Để biểu thị sự ủng hộ Thái Lan, Hoa Kỳ chuyển giao cho Thái số lượng đạn dược trị giá $11.3 triệu dollar tồn kho tại Thái từ thời chiến tranh Việt Nam. Chính quyền Carter cũng hứa hẹn thúc đẩy việc chuyển giao chiến đấu cơ F-5E và các loại vũ khí hiện đại khác mà Thái đã đặt mua, và tăng lượng vũ khí bán cho Thái từ mức 30 triệu dollar một năm lên 50 triệu. Tuy vậy, trong trường hợp chiến tranh nổ ra, quân Thái vẫn không phải là đối thủ của Việt Nam. Với lực lượng 141.000 quân, số lượng quân Thái chỉ bằng 1/4 quân Việt Nam, và họ không có được kinh nghiệm chiến đấu như quân Việt Nam.[32]
Tới năm 1985, Việt Nam huy động khoảng 60 ngàn quân cho chiến dịch tấn công, cùng với hàng chục ngàn dân công Campuchia xây đường và mở rộng các sân bay dã chiến tại khu vực biên giới. Cuối tháng 12 năm 1984, khoảng 1.000 quân Việt Nam đánh hạ căn cứ Nong Samet. Tháng 1 năm 1985, khoảng 4.000 quân Việt Nam, với hơn 30 xe tăng và xe bọc thép hỗ trợ, đánh vào căn cứ Ampil của lực lượng KPNLF với 5.000 quân phòng ngự và triệt hạ hoàn toàn căn cứ này sau 36 tiếng. Quân Việt Nam và quân chính phủ Cộng hòa Nhân dân Campuchia mở chiến dịch đánh vào căn cứ lớn của Khmer Đỏ tại Phnom Malai, mà họ định đánh chiếm năm 1982 nhưng bất thành. Chiến dịch mùa khô năm 1984-85 là chiến dịch lớn chưa từng có kể cả về qui mô, thời gian và mức độ thành công.[34]